Thuốc Avodart



Số đăng ký: VN-8476-04

Dạng bào chế: Viên nang mềm

Đói gói: Viên nang mềm

Nhà sản xuất: RP Sherer S.A - ÁC HEN TI NA

Nhà phân phối:

Nhà đăng ký: Glaxo SmithKline Pte., Ltd - BỈ

Avodart

Thành phần: Dutasteride
Hàm lượng: 0;5mg

Tra cứu thành phần:



Hãng dược phẩm khổng lồ GlaxoSmithKline vừa tung ra thị trường Mỹ sản phẩm mang tên Avodart để điều trị phì đại tuyến tiền liệt lành tính. Thuốc có tác dụng làm giảm kích thước tuyến này và hạ thấp nguy cơ xuất hiện

các cơn bí tiểu cấp tính.

Tuyến tiền liệt bị tăng trưởng quá mức khi trong cơ thể có quá nhiều hoóc môn mang tên DHT (dihydrotestosterone). Avodart có tác dụng hạ thấp hàm lượng hoóc môn này trong máu. Nghiên cứu cho thấy, thuốc phát huy tác dụng làm giảm kích thước của tuyến sau khi bắt đầu điều trị 1 tháng. Các triệu chứng bệnh thường được cải thiện sau khoảng 3 tháng và nhu cầu phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt của người bệnh cũng giảm.

Nhà sản xuất dự định trong năm tới sẽ bắt đầu các nghiên cứu dài hơi để kiểm tra tác dụng chống ung thư tuyến tiền liệt của Avodart. Họ hy vọng đây sẽ là biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự khởi phát của ung thư tuyến liệt, điều chưa dược phẩm nào làm được.

dutasteride
iều trị & phòng ngừa phì đại tuyến tiền liệt lành tính (BPH) thông qua việc làm giảm triệu chứng, giảm kích thước tuyến tiền liệt, cải thi
U xơ tuyến tiền liệt Bệnh lý phổ biến ở quí ông lớn tuổ
U xơ tuyến tiền liệt (TTL) thường được các bác sĩ niệu khoa viết tắt trong chẩn đoán là BPH, còn được gọi với tên khác như: phì đại TTL hay bướu lành TT. Đây là tình trạng có sự tăng kích thước của TTL ở nam giới từ tuổi trung niên đến tuổi già.
ĐỌC THÊM :
TTL là gì
Ở điều kiện sinh lý bình thường, TTL được hình thành chỉ có ở nam giới từ tuần lễ thứ 12 của thai kỳ và phát triển theo quá trình biệt hóa đến khi trẻ ra đời. Đến tuổi dậy thì, TTL tiếp tục phát triển và hoạt động như một tuyến sinh dục phụ, có trọng lượng khoảng 20g. TTL cùng với mào tinh hoàn, bóng tinh, túi tinh tiết ra huyết tương - tinh dịch để nuôi dưỡng và kích thích sự di chuyển của tinh trùng. Cho đến tuổi từ 45 trở đi thì TTL ngừng phát triển và có hướng tăng sản theo dạng bệnh lý để hình thành gọi bướu lành TTL. Bệnh phát triển thường từ tuổi 50 trở đi, càng lớn tuổi thì xuất độ càng cao.
Về phương diện giải phẫu, TTL là một tổ chức bao quanh niệu đạo, có trọng lượng khoảng 15 - 20g, nằm ngay sát cổ bàng quang, phía sau xương mu và trước trực tràng, chia thành 2 hoặc 3 thùy, bọc xung quanh một phần niệu đạo, là đoạn dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài khi đi tiểu, đoạn niệu đạo này còn được gọi là niệu đạo TTL. Khi bướu lành TTL phát triển, gây chèn ép đoạn niệu đạo này từ đó gây cản trở khi đi tiểu, từ tiểu khó, lắc nhắc nhiều lần, có khi bí tiểu.
Nguyên nhân và biểu hiện
Hiện tại vẫn chưa biết rõ nguyên nhân, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất với nhau rằng bệnh có liên quan mật thiết đến yếu tố nội tiết tố sinh dục nam.
Về triệu chứng, điển hình cho khởi đầu của bệnh là tình trạng rối loạn về tần suất đi tiểu. Người bệnh thường đi tiểu lắc nhắc, nhiều lần, có cảm giác tiểu không hết nước tiểu, nhất là về đêm. Nặng hơn nữa là tình trạng tiểu khó, tia nước tiểu yếu, tiểu rắt, tiểu đêm nhiều lần với số lần nhiều hơn, khiến người bệnh mất ngủ. Nặng hơn nữa có thể gây bí tiểu mạn tính dẫn đến viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu thậm chí suy thận, hoặc bí tiểu cấp tính.
Chẩn đoán u xơ TTL

Về phát hiện bệnh, hiện tại có nhiều phương pháp, trong đó siêu âm là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở nước ta. Siêu âm TTL là kỹ thuật dùng sóng âm thanh có tần số cao đưa vào trong cơ thể rồi ghi nhận và phân tích sóng dội ngược về để tạo nên hình ảnh ở màn hình máy siêu âm. Đây là một phương tiện khám an toàn, nhanh chóng, đơn giản, là thủ thuật không xâm lấn vào TTL, không đau, rẻ tiền, không gây độc hại. Nếu siêu âm qua đường bên ngoài da vùng bụng, thì người bệnh chỉ cần nhịn đi tiểu để cho bàng quang căng to đẩy TTL lên sẽ cho hình ảnh rõ và chính xác hơn, hoặc có thể siêu âm đầu dò qua ngã trực tràng. Siêu âm không những đánh giá về mặt hình thể mà còn giúp đánh giá được khối lượng của TTL, kích thước, tính chất như của khối u đồng nhất hay không đồng nhất, đo được lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang. Tuy nhiên, siêu âm chỉ là cảm nhận có tính chất chủ quan của bác sĩ, nên kết quả còn phụ thuộc vào chất lượng của máy và kinh nghiệm của bác sĩ. Vì vậy, nên phối hợp thăm khám TTL qua đường hậu môn - trực tràng, khi cần thiết có thể áp dụng một số kỹ thuật khác như chụp cắt lớp hay chụp cộng hưởng từ.
Phương pháp điều trị
Hiện tại có nhiều phương pháp để điều trị. Phương pháp điều trị nội khoa được ưu tiên với u nhỏ, triệu chứng mới xuất hiện, rối loạn tiểu tiện chưa nhiều hoặc chưa có chỉ định phẫu thuật. Có 2 nhóm thuốc chính được sử dụng rộng rãi hiện nay:
Nhóm ức chế alpha blockers: bao gồm các thuốc như tamsulosin dùng với liều 0,4mg, uống một lần duy nhất trong ngày. Hoặc alfuzosin dùng với liều 10mg, uống 1 lần trong ngày, viên 5mg thì dùng với liều 5mg, uống 2 lần trong ngày. Ngoài ra, còn các thuốc khác như: tadenan, terazosin, doxazosin. Các thuốc này có tác dụng làm giãn cơ ở TTL và cổ bàng quang, từ đó làm tăng dòng nước tiểu và làm giảm nhẹ các triệu chứng của u xơ TTL. Hầu hết các thuốc trên đều có tác dụng nhanh sau khi dùng. Tác dụng phụ của nhóm thuốc này là: có thể làm cho người bệnh bị choáng váng, mệt mỏi, rối loạn chức năng dạ dày ruột, nghẹt mũi, nhức đầu, một số ít trường hợp có thể gây hạ huyết áp.
Thuốc thuộc nhóm ức chế 5-alpha reductase: các nhà khoa học thấy rằng, enzyme 5-alpha reductase chuyển đổi testosteron thành dihydrotestosteron; chất này kích hoạt các thụ thể androgen trong TTL làm chuyển mã, giải mã một số yếu tố tăng trưởng như yếu tố tăng trưởng biểu mô - EGF, làm phát sinh bệnh. Thuốc ức chế enzyme này làm chậm quá trình tăng sinh TTL. Hiện có các thuốc như dutasterid uống với liều 0,5mg uống 1 lần trong ngày; hoặc dùng finasterid với liều 5mg, uống 1 lần duy nhất trong ngày. Khi dùng nhóm thuốc này với thời gian ít nhất từ 3 - 6 tháng sau mới thấy kết quả, tác dụng phụ có thể gặp ở hai thuốc trên như rối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dục và giảm lượng tinh dịch.
Khi điều trị nội khoa tỏ ra kém hiệu quả thì điều trị phẫu thuật vẫn là biện pháp tối ưu, giải quyết triệt để nguyên nhân. Trước đây, người ta phải mổ hở, bóc lấy khối u. Phương pháp này thường gây mất máu nhiều, người bệnh phải nằm viện kéo dài, tốn kém, sức khỏe phục hồi chậm. Hiện nay, phương pháp mổ nội soi qua đường niệu đạo để cắt u xơ TTL được áp dụng phổ biến rộng rãi nước ta cũng như các nước trên thế giới. Phẫu thuật này với ưu điểm là ít gây mất máu và ít đau nên người bệnh phục hồi sức khỏe nhanh chóng.
Như vậy, u xơ TTL không phải là bệnh lý ác tính, mà là sự phì đại lành tính của TTL. Bệnh bắt đầu vào độ tuổi trung niên, tiến triển từ từ và thường chỉ gây ra triệu chứng sau tuổi 50. Bệnh chiếm tỷ lệ cao trong xã hội. Theo thống kê ở nước ta có tới 45 - 70% số nam giới trong độ tuổi từ 50 - 75 mắc căn bệnh này, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn. Nam giới lớn tuổi được bác sĩ chẩn đoán là bướu lành TTL chớ nên quá lo lắng và được xem đây là tiến trình phát triển bình thường, trong khi chờ đợi các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và lý giải một cách sáng tỏ hơn.
BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG(SK&ĐS)
0000520 00030 VIÊN 0,5MG

********************************************
Thành Phần:
Dutasteride.
Chỉ Định:
Điều trị & phòng ngừa phì đại tuyến tiền liệt lành tính (BPH) thông qua việc làm giảm triệu chứng, giảm kích thước tuyến tiền liệt, cải thiện lưu thông nước tiểu & giảm nguy cơ bí tiểu cấp tính (AUR) cũng như giảm nhu cầu phẫu thuật liên quan đến BPH.

Liều Dùng:
Người lớn 0.5 mg, ngày một viên. Cần điều trị ít nhất 6 tháng dù có thể thấy đáp ứng sớm.
Cách dùng:
Nuốt nguyên viên.
Chống Chỉ Định:
Tiền sử quá mẫn với dutasteride, chất ức chế 5-alpha reductase khác hay với thành phần thuốc. Phụ nữ & trẻ em.
Thận Trọng:
Phụ nữ & trẻ em tránh tiếp xúc với viên nang vỡ. Bệnh gan. Ảnh hưởng đến kháng nguyên đặc trưng tuyến tiền liệt (PSA) & phát hiện ung thư tuyến tiền liệt.
Phản Ứng Có Hại:
Bất lực, giảm ham muốn tình dục, rối loạn phóng tinh, vú to ở nam.
Tương Tác Thuốc:
Giảm thải dutasteride khi dùng cùng với chất ức chế CYP3A4: verapamil & diltiazem.
Phân loại :
Thuốc trị các rối loạn ở bàng quang & tuyến tiền liệt (Drugs for Bladder & Prostate Disorders)
Trình bày/Đóng gói:
Avodart 0.5 mg x 3 vỉ x 10 viên