Thuốc Drofen 150mg



Số đăng ký:

Dạng bào chế:

Đói gói:

Nhà sản xuất:

Nhà phân phối:

Nhà đăng ký:

Drofen 150mg

Tra cứu thành phần:



Ibandronic Acid
Chỉ định:
tăng calci máu, di căn xương của ung thư vú

Các biphosphonat có thể làm giảm calci máu của các bệnh ác tính do làm giảm tiêu xương. Clodronate, pamidronate và zoledronic acid hiện đang được sử dụng cho  chỉ định này. Giờ đây ibandronic đã được cấp phép và được chỉ định cho các bệnh nhân tăng calci máu gây nên bởi  khối u có hay không có di căn. Thuốc này cũng được dùng cho các bệnh nhân ung thư vú di căn xương.

Khi dùng đường tĩnh mạch thuốc cần  pha loãng và truyền  với thời gian trên 2 giờ. Liều dùng cho tăng calci  máu được tính theo chỉ số calci  huyết, sau khi đã chỉnh nồng độ albumin. Bệnh nhân ung thư vú có thể cho truyền mỗi 4 tuần hoặc dùng dạng thuốc uống mỗi ngày. Ibadronic acid dạng uống không nên uống vào bữa ăn vì sinh khả dụng của thuốc giảm tới 90%. Cần nuốt nguyên viên thuốc với nước và bệnh nhân không được nằm trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc.

Khoảng một nửa liều được hấp thu vào xương. Phần còn lại thải dưới dạng không thay đổi qua nước tiểu. Không cần hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan, nhưng cần hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng.
Nghiên cứu ngẫu nhiên pha II tiến hành trên 174 bệnh nhân ung thư có tăng calci máu. Có 3 chế độ liều ibadronic acid đựoc dùng cho bênh nhân. Đáp ứng tốt nhất ở nhóm bệnh nhân dùng liều cao (2mg). Nồng độ calci máu của 37/55 bệnh nhân của nhóm này trở về bình thường. Bệnh nhân có nồng độ calci máu cao cũng đáp ứng tốt hơn với mức liều cao nhất.

Hiệu quả của ibadronic acid dạng tiêm tĩnh mạch với khoảng cách liều 3-4 tuần cũng đã được đánh giá trong thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát so sánh với giả dược tiến hành trên 466 phụ nữ ung thư vú có di căn xương. Thời gian nghiên cứu trung bình ở nhóm dùng giả dược là 13 tháng và ở nhóm dùng ibadronic acid là 18 tháng. Kết quả cho thấy với mức liều 2 mg không có ?sự khác biệt có? ??y nghĩa thống kê giữa nhóm dùng thuốc và nhóm dùng giả dược. Tỉ lệ biến chứng xương giảm ở nhóm dùng liều ibandronic 6 mg. ở mức liều này tỉ lệ có biến cố về xương là 2,65 trên mỗi bệnh nhân, tỉ lệ này là 3,64 ỏ nhóm dùng giả dược (các biến cố bao gồm gãy xương hay các biến chứng xương khác mà cần phải điều trị). Các bệnh nhân dùng liều ibandronic acid 6 mg cũng ít đau xương hơn.

Hiệu quả của ibandronic acid dạng uống được đánh giá trên 435 bệnh nhân có di căn xương, các bệnh  nhân được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm : dùng giả dược, dùng 20 mg ibadronic acid, dùng 50 mg ibadronic acid. Tỉ lệ biến cố trung bình về xương trên bệnh nhân là 1,36 ở nhóm dùng liều 20 mg, 1,43 ở nhóm dùng liều 50 mg và 2,23 ở nhóm dùng giả dược. Mặc dù cả hai mức liều ibandronic acid có hiệu quả tương tự nhưng trên lâm sàng khuyến cáo dùng liều cao.

Tác dụng phụ của ibandronic acid dạng uống là khó tiêu, viêm thực quản, đau bụng, buồn nôn, hạ calci máu. Dùng ibandronic acid  dạng tiêm có gây sốt hay triệu chứng giống như cúm, suy nhược, ỉa chảy, buồn nôn, đau đầu và đau cơ. Cần theo dõi nồng độ calci máu và chức năng thận trong quá trình điều trị. Bệnh nhân cần bổ sung lượng calci và vitamin D thích hợp nếu có nguy cơ hạ calci máu. Các bệnh nhân cần được kiểm tra về nha khoa trước khi bắt đầu điều trị vì đã có trường hợp hoại tử xương hàm khi dùng biphosphonat.

Tổng kết của Cochran kết luận biphosphonat có hiệu quả trong điều trị di căn xương ở bệnh nhân ung thư  vú, mặc dù nó không có tác dụng trên thời gian sống thêm. Chưa có các nghiên cứu chứng tỏ ibandronic acid có hiệu qủa lâm sàng hơn các biphosphonat khác. ?
Đơn vị thông tin thuốc - Bệnh viện Bạch Mai
(Australian prescriber, Vol 31, N 3, 6/2008)

thuoc goc

Tin y dược