Thuốc Fezidat



Số đăng ký:

Dạng bào chế: Viên nang

Đói gói:

Nhà sản xuất: Eloge france

Nhà phân phối: Eloge france

Nhà đăng ký:

Fezidat

Tra cứu thành phần:

Công thức:
Sắt (II) Fumarat..................................200mg.
Folic acid........................................1000mcg.
Vitamin B12 (dạng hạt vi nang)..............50mcg.
Tinh bột,Lactose,Avicel,Magnesi stearat.vp 1 viên nang.

 

Chỉ định:
Mọi trường hợp thiếu máu do thiếu cung cấp hoặc mất chất sắt và các yếu tố tạo máu.
Điều trị dự phòng:
Trong các trường hợp tăng nhu cầu tạo máu như ở phụ nư có thai, cho con bú, người suy dinh dưỡng, thời kì hậu phẫu, dưỡng bệnh và trẻ em.
Các chứng thiếu sắt, folic acid và vitamin B12 khi chế độ ăn uống không đủ các yếu tố đó.
Chống chỉ định:
Quá tải sắt.
Tiền sử dị ứng với cobalamin (Cyanocobalamin (dạng phun sấy) và các chất tương tự).
U ác tính.

Tác dụng không mong muốn:
Có thể gây hiện tượng rối loạn tiêu hoá, phân đen hoặc xám đen
Xử trí  ADR:
Có thể hạn chế các ADR không thường xuyên bằng cách uống liều thấp, sau
Tăng dần hoặc uống cùng một ít thức ăn.
Tương tác thuốc:
Calci (dạng muối đường uống) làm giảm sự hấp thu của các muối sắt qua đường tiêu hoá. Nên uống các muối sắt xa bữa ăn và không dùng chung với calcium.
Chất sắt (dạng muối đường tiêm) khi kết hợp với các muối sắt đường uống gây xỉu, thậm chí gây sốc do giải phóng nhanh sắt từ dạng phức hợp và do bão ho: siderophyline.

Làm giảm sự hấp thu của các diphosphonate, các cycline, pénicillamine qua đường tiêu hoá; làm giảm sinh khả dụng của các fluoroquinolone do tạo phức chelat; làm giảm sự hấp thu của thyroxine qua đường tiêu hoá và làm giảm thyroxine huyết. Nên uống các thuốc này cách xa nhau trên 2 giờ nếu có thể.
Thuốc băng dạ dày ruột làm giảm sự hấp thu của các muối sắt qua đường tiêu hoá.

Folic acid làm giảm nồng độ của các thuốc chống co giật gây cảm ứng men trong huyết tương, tăng cường tác dụng điều trị cũng như tác dụng ngoại ý của fluoro-uracile.

Cách dùng: Uống trước ba ăn
Điều trị tận gốc:
Người lớn 2-3 viên/ngày. Trẻ em 1-2 viên/ ngày.
Tối đa không quá 6 viên/ ngày.
Điều trị dự phòng:
Liều duy trì 1 viên/ ngày. Thời gian điều trị phải đủ để điều chỉnh sự thiếu máu và phục hồi lại nguồn dự trữ chất sắt. Phụ nũ có thai nên dùng liều duy trì trong suốt thời kì thai nghén. Thiếu máu do thiếu sắt: Dùng 2 - 4 tháng tuỳ theo mức độ thiếu hụt nguồn dự trữ.

 

Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Sử dụng tốt cho phụ nữ có thai, cho con bú.

Tác động của thuốc khi lái xe hoặc vận hành máy móc:
Chưa được ghi nhận.

Sử dụng quá liều:
Sau khi dùng quá nhiều thuốc, có những trường hợp quá liều về muối sắt được ghi nhận, đặc biệt ở trẻ em dưới 2 tuổi: triệu chứng bao gồm dấu hiệu kích thích và hoại tử dạ dày-ruột, đa số trường hợp có kèm theo buồn nôn, nôn và tình trạng sốc.

Chữa trị càng sớm càng tốt bằng cách rửa dạ dày với dung dịch Natri bicarbonat 1%.
Sử dụng một chất chelat hoá cũng hiệu nghiệm đặc hiệu nhất là deferoxamin, nhất là khi nồng độ sắt trong huyết tương vượt quá 5mcg/ml. THnh trạng sốc, mất nước và những bất thường kiềm toan được chữa trị theo cách thông thường.

 

Các đặc tính lực học:
Viên Fezidat cung cấp sắt, folic acid, yếu tố tạo máu:
Viên nang Fezidat chứa sắt (II) fumarat, dạng có hàm lượng sắt cao (33%). Mỗi viên cung cấp cho cơ thể khoảng 66mg sắt nguyên tố, là yếu tố quan trọng tham gia vào cấu tạo Hemoglobin, myoglobin và enzym hô hấp cytochrom C.
Vitamin B12 có vai trò quan trọng trong phòng và chữa bệnh thiếu máu do làm tăng sinh trưởng hồng cầu. Ngoài ra vitamin B12 còn có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phân chia và tái tạo các tế bào mô.
Acid folic là vitamin nhóm B. Trong cơ thể, nó được khử thành tetrahydrofolat là coenzym của nhiều quá trHnh chuyển hóa trong đó có tổng hợp các nucleotid có nhân purin hoặc pyrimidin; do vậy ảnh hưởng lên tổng hợp DNA. Khi có vitamin C, acid folic được chuyển thành leucovorin là chất cần thiết cho sự tổng hợp DNA và RNA. Acid folic là yếu tố không thể thiếu được cho tổng hợp nucleoprotein và tạo hồng cầu bình thường; thiếu acid folic gây ra thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ giống như thiếu máu do thiếu vitamin B12. Sự phối hợp vitamin B12 với folic acid tạo tác dụng tối ưu trong quá trình sinh trưởng và sinh sản tế bào, đặc biệt quá trình tạo hồng cầu. Ngoài ra folic acid cũng tham gia vào một số biến đổi acid amin, vào sự tạo thành và sử dụng format.

 

Các đặc tính dược động học:
Vitamin B12:
Sau khi uống, vitamin B12 được hấp thu qua ruột, chủ yếu ở hồi trang theo hai cơ chế: cơ chế thụ động khi lượng dùng nhiều; và cơ chế tích cực, cho phép hấp thu những liều lượng sinh lý, nhưng cần phải có yếu tố nội tại là glycoprotein do tế bào thành niêm mạc dạ dày tiết ra. Mức độ hấp thu khoảng 1% không phụ thuộc vào liều và do đó ngày uống 1mg sẽ thỏa mãn nhu cầu hàng ngày và đủ để điều trị tất cả các dạng thiếu vitamin B12. Sau khi hấp thu, vitamin B12 liên kết với transcobalamin II và được loại nhanh khỏi huyết tương để phân bố ưu tiên vào nhu mô gan. Gan chính là nơi dự trữ vitamin B12 cho các mô khác. Khoảng 3mcg cobalamin thải trừ vào mật mỗi ngày, trong đó 50 - 60% là các dẫn chất của cobalamin không tái hấp thu lại được.
Folic acid:
Được giải phóng nhanh ở dạ dày và hấp thu chủ yếu ở đoạn đầu ruột non. Acid folic trong chế độ ăn bình thường được hấp thu rất nhanh và phân bố ở các mô trong cơ thể. Thuốc được tích trữ chủ yếu ở gan và được tập trung tích cực trong dịch não tủy. Mỗi ngày khoảng 4 - 5mcg đào thải qua nước tiểu. Uống acid folic liều cao làm lượng vitamin đào thải qua nước tiểu tăng theo tỉ lệ thuận. Acid folic đi qua nhau thai và có trong sữa mẹ.
Sắt:
Hấp thu: Sắt (II) được hấp thu dễ dàng qua niêm mạc dạ dày, ruột. Tại ruột Sắt (II) được gắn với một albumin ở tế bào niêm mạc ruột là apoferritin để tạo thành ferritin đi vào máu.
Phân bố: Trong máu ferritin nhả sắt ra và sắt được gắn với glycoprotein, chất vận chuyển sắt đặc hiệu gọi là transferrin. Thông qua transferrin sắt được chuyển đến các mô như tuỷ xương, có một phần ở dạng dự trữ ở gan, lá lách, tuỷ xương còn một phần tạo hồng cầu và các enzym.
Chuyển hoá: tham gia vào nhiều quá trHnh chuyển hoá trong cơ thể.
Thải trừ: chủ yếu qua phân (90%), một phần nhỏ qua mồ hôi và nước tiểu, kinh nguyệt.