Thuốc Utrogestan 200mg

Số đăng ký: VN-7862-09

Dạng bào chế: Viên nang mềm

Đói gói: Hộp 1 vỉ x 15 viên

Nhà sản xuất: Besins International Belgique S.A - BỈ

Nhà phân phối:

Nhà đăng ký: Tedis S.A - PHÁP

Thành phần: Progesterone

Thành phần:

Progesterone: 200mg


Chỉ định:

Hội chứng tiền kinh nguyệt
Kinh nguyệt không đều do rối loạn rụng trứng hoặc không dụng trứng
Đau vú hoặc rối loạn vú lành tính
Chay máu do u xơ
Mãn kinh bổ sung cho liệu pháp
Thuốc nàycũng được chỉ định bằng đường âm đạo để giúp mang thai, đặc biệt
Trong trường hợp xảy thai liên tiếp
Trong các chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm

Chống chỉ định:

Nếu dị ứng với bất kỳ thành phần nào của Utrogestan
Bằng đường uóng trong trườnghợp gan nặng

Chú ý đề phòng:

Utrogestan chỉ được dùng trong quý đầu của thai kỳ và chứng bằng đường âm đạo. Dùng progesteron dạng mịn trong quý hai và quý ba của thai kỳ có th đưa đến bệnh gan về tế bào gan
Trong các điều kiện sử dụng được khuyên dùng, đièu trị này không phải để ngừa thai
Nếu được cho bằng đường uống, nên dùng thuốc cách xa các bữa ăn, tốt nhất vào buổi tôí lúc đi ngủ.
Lái xe và sử dụng máy móc.
Bằng đường uống, cần chú ý thuốc này có thể đưa đến tình trạng buồn ngủ hoặc chóng mặt ở người lái xe hoặc sử dụng máy móc

Lúc có thai:

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học trên một ngàn bệnh nhân không ghi nhận được một kết hợp nào giữa và dị dạng thai nhi
Hãy hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ khi dùng bất cứ một thuốc nào

Tương tác thuốc:

Hãy báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết nếu bạn đang dùng hoặc mới dùng bất cứ một thuốc nào, ngay cả khi là những thuốc không cần kê toa

Tác dụng ngoài ý:

- Ngủ gật có thể xảy ra sau 1 đến 3 giờ dùng thuốc.
- Kinh nguyệt không đều, ngưng kinh, chảy máu giữa các kỳ kinh
Các tác dụng này chỉ có với đường uống, thông thường là do quá liều
Trường hợp này nên:
- Giảm liều cho mỗi lần dùng
- Điều chỉnh lại liều
- Thay bằng đường âm đạo
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp không nên dùng quá 200mg mỗi lần.

Liều lượng:

Trong mọi trường hợp, cần tuân thủ nghiêm ngặt toa thuốc của bác sĩ
Không được dùng hơn 200mg môĩ lần ( 2viên 100mg hoặc 1 viên 200mg) bằng đường uống hoặc đường âm đạo
Trung bình, trong trường hợp thiếu progesteron, liều dùng là 200 đến 300mg mỗi ngày chia làm 1 hoặc 2 lần, 100mg vào buổi sáng, 100-200 mg vào buổi tối lúc đi ngủ.
Trong một số trường hợp, đặc biệt là để giúp có thai, bác sỹ có thể tăng liều dùng đến 600mg mỗi ngày chia thành 3 lần.
Tuy nhiên, điều trị có thể cho liên tục hoặc từng đợt vài ngày mỗi tháng, và có thể kết hợp với một điều trị estrogen.
Hai đường dùng có thể dùng, đường uống và đường âm đạo. Điều này sẽ do bác sỹ điều trị quyết định tùy theo trường hợp.
Nếu thuốc được cho bằng đường uống, uống thuốc với một ly nước cách xa các bữa ăn, chia thành 1 hoặc 3 lần, theo toa thuốc của bác sỹ.
Nếu thuốc được cho bằng đường âm đạo, đặt mỗi viên nang vào sâu trong âm đạo.
Thời gian điều trị sẽ do bác sỹ quyết định tùy theo trường hợp.
Thời gian điều trị có thể được điều chỉnh tùy theo chỉ định và hiệu quả điều trị.

 

Progesterone là gì?

Nhóm Dược lý:
Tên Biệt dược : Lugerol; Progeffik 200; Progestogel
Dạng bào chế : Gel dùng đường âm đạo; Dung dịch tiêm; Viên nang mềm; Gel bôi ngoài da
Thành phần : Progesterone tự nhiên dạng mịn
+ Phần thông tin tham khảo + + Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ +
Dược lực :
Progesterone.
Thuốc bao gồm các đặc tính dược lực của progesterone tự nhiên, gồm: trợ thai, kháng estrogene, kháng nhẹ androgene, kháng aldosterone.
Dược động học :
Ðường uống:
- Hấp thu:
Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa.
Sau khi uống thuốc, nồng độ progesterone huyết tương bắt đầu tăng ngay trong giờ đầu tiên và nồng độ cao nhất được ghi nhận sau khi uống thuốc từ 1 đến 3 giờ.
Các nghiên cứu dược động được thực hiện ở người tình nguyện cho thấy rằng sau khi uống đồng thời 2 viên 100mg hoặc 1 viên 200mg, nồng độ progesterone huyết tương tăng trung bình từ 0,13 ng/ml đến 4,25ng/ml sau 1 giờ, 11,75ng/ml sau 2 giờ, 8,37ng/ml sau 4 giờ, 2ng/ml sau 6 giờ và 1,64ng/ml sau 8 giờ.
Do thuốc có thời gian lưu lại trong mô nên cần phải chia liều hàng ngày làm 2 lần cách nhau 12 giờ để đạt tình trạng bão hòa trong suốt 24 giờ.
Sự nhạy cảm đối với thuốc có khác nhau giữa người này và người khác, tuy nhiên ở cùng một người thì các đặc tính dược động thường rất ổn định, do đó khi kê toa cần chỉnh liều thích hợp cho từng người và một khi đã xác định được liều thích hợp thì liều dùng được duy trì ổn định.
- Chuyển hóa:
Trong huyết tương, các chất chuyển hóa chính gồm 20-alfa-hydroxyd-4-alfa-pregnanolone và 5-alfa-dihydroprogesterone.
95% được đào thải qua nước tiểu dưới dạng liên hợp glucuronic trong đó chủ yếu là 3-alfa,5-beta-pregnanediol (pregnandiol). Các chất chuyển hóa trong huyết tương và nước tiểu tương tự với các chất được tìm thấy trong quá trình chế tiết sinh lý của hoàng thể buồng trứng.
Ðường âm đạo:
- Hấp thu:
Sau khi đặt vào âm đạo, progesterone được hấp thu nhanh qua niêm mạc âm đạo, được chứng minh qua việc nồng độ của progesterone trong huyết tương tăng cao ngay trong giờ đầu tiên sau khi đặt thuốc.
Nồng độ tối đa trong huyết tương của progesterone đạt được sau khi đặt thuốc từ 2 đến 6 giờ và duy trì trong 24 giờ ở nồng độ trung bình là 9,7ng/ml sau khi dùng liều 100mg vào buổi sáng và buổi tối. Với liều trung bình này, progesterone đạt nồng độ sinh lý ổn định trong huyết tương, tương đương với nồng độ quan sát được trong pha hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt rụng trứng bình thường. Nồng độ progesterone ít khác biệt giữa các đối tượng cho phép dự kiến hiệu lực của thuốc khi dùng liều chuẩn.
Với liều cao hơn 200mg/ngày, nồng độ progesterone thu được tương đương với nồng độ được mô tả trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
- Chuyển hóa:
Trong huyết tương, nồng độ của 5-beta-pregnanolone không tăng.
Thuốc được đào thải qua nước tiểu chủ yếu dưới dạng 3-alfa,5-beta-pregnanediol (pregnandiol), được chứng minh qua nồng độ chất này trong nước tiểu tăng dần (cho đến nồng độ tối đa là 142ng/ml ở giờ thứ 6).
Tác dụng :
Progesterone là một hormon steroid được tiết ra chủ yếu từ hoàng thể ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt. Progesterone được hình thành từ các tiền chất steroid trong buồng trứng, tinh hoàn, vỏ thượng thận và nhau thai. Cùng với lượng estrogen nội sinh được tiết ra đầy đủ ở người phụ nữ bình thường, progesteron sẽ làm nội mạc tử cung tăng sinh chuyển sang giai đoạn chế tiết( giai đoạn hoàng thể). Progesteron gimả tiết đột ngột vào cuối vòng kinh là nguyên nhân chủ yếu khởi đầu kinh nguyệt.
Progesteron kích thích nang vú phát triển và làm thư giãn cơ trơn tử cung.
Chỉ định :
Ðường uống:
Các rối loạn có liên quan đến sự thiếu progesterone, nhất là trong các trường hợp:
- Hội chứng tiền kinh nguyệt,
- Kinh nguyệt không đều do rối loạn rụng trứng hoặc không rụng trứng,
- Bệnh vú lành tính, đau vú,
- Tiền mãn kinh,
- Liệu pháp thay thế hormone trong giai đoạn mãn kinh (bổ sung cho liệu pháp estrogene).
Ðường âm đạo:
- Thay thế progesterone trong các trường hợp thiếu progesterone hoàn toàn ở phụ nữ bị lấy buồng trứng (chương trình hiến noãn bào),
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (FIV),
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ tự phát hoặc được tạo ra, trong trường hợp khả năng sinh sản kém hoặc vô sinh nguyên phát hay thứ phát nhất là do rối loạn rụng trứng,
- Trong trường hợp bị đe dọa sẩy thai hoặc phòng ngừa trong trường hợp bị sẩy thai liên tiếp do suy hoàng thể, cho đến tuần thứ 12 sau khi tắt kinh,
- Trong tất cả các chỉ định khác của progesterone, đường âm đạo được dùng để thay thế cho đường uống trong các trường hợp:
- Có tác dụng ngoại ý của progesterone (bị buồn ngủ sau khi uống thuốc),
- Chống chỉ định đường uống (bị bệnh gan).
Chống chỉ định :
Ðường uống: rối loạn chức năng gan nặng.
Thận trọng lúc dùng :
- Trên phân nửa số trường hợp bị sẩy thai sớm tự phát là do tai biến di truyền. Ngoài ra, các trường hợp nhiễm trùng và các rối loạn cơ học có thể là nguyên nhân gây sẩy thai sớm. Vì vậy, dùng progesterone có thể làm chậm việc tống phôi chết (hoặc gián đoạn thai kỳ không tiến triển).
- Chỉ nên dùng progesterone cho những trường hợp mà sự chế tiết của hoàng thể bị suy giảm.
- Dùng progesterone không phải là một liệu pháp tránh thai.
- Chỉ nên dùng Progesterone trong quý đầu của thai kỳ và bằng đường âm đạo. Có thể bị một số tác dụng phụ trên gan nếu sử dụng thuốc trong quý 2 và quý 3 của thai kỳ.
Lái xe và vận hành máy móc:
Khi lái xe hay vận hành máy móc cần phải lưu ý rằng uống thuốc này có thể gây buồn ngủ và/hay cảm giác chóng mặt.
LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ
Dùng progesterone trong quý 2 và quý 3 của thai kỳ có thể dễ gây vàng da ứ mật hoặc bệnh tế bào gan.
Tương tác thuốc :
Progesterone ngăn cản tác dụng của bromocriptin.
Làm tăng nồng độ ciclosporin trong huyết tương.
Các test thử chức năng gan và nội tiết có thể bị sai lệch.
Tác dụng phụ
Ðường uống:
- Buồn ngủ hoặc cảm giác chóng mặt đôi khi xảy ra ở một vài bệnh nhân sau khi uống thuốc từ 1 đến 3 giờ. Trong trường hợp này, có thể giảm liều hoặc thay đổi cách dùng thuốc: uống 2 viên 100mg hoặc 1 viên 200mg vào buổi tối lúc đi ngủ, 12 đến 14 ngày cho mỗi chu kỳ điều trị, hoặc chuyển sang đường âm đạo.
- Thu ngắn chu kỳ kinh nguyệt hoặc gây xuất huyết giữa chu kỳ. Trong trường hợp này phải bắt đầu đợt điều trị chậm hơn trong chu kỳ (ví dụ như bắt đầu vào ngày thứ 19 thay vì ngày thứ 17).
Các tác dụng ngoại ý này thường xảy ra khi quá liều.
Ðường âm đạo:
- Không có trường hợp bất dung nạp thuốc tại chỗ (nóng, ngứa hoặc chảy chất nhờn) nào được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng.
- Không có tác dụng phụ toàn thân đặc biệt là buồn ngủ hay cảm giác chóng mặt được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng ở liều khuyến cáo.
Liều lượng :
Cần chấp hành đúng liều khuyến cáo.
Ðường uống:
Trung bình trong các trường hợp thiếu progesterone, liều dùng là 200 đến 300mg progesterone mỗi ngày, chia làm 2 lần, vào buổi sáng và vào buổi tối. Nên uống thuốc xa bữa ăn, nên uống vào buổi tối trước lúc đi ngủ.
- Trong suy hoàng thể (hội chứng tiền kinh nguyệt, bệnh vú lành tính, kinh nguyệt không đều, tiền mãn kinh): 200-300mg mỗi ngày, 10 ngày cho mỗi chu kỳ, thường bắt đầu từ ngày thứ 17 đến ngày thứ 26.
- Trong liệu pháp thay thế hormone trong giai đoạn mãn kinh: liệu pháp estrogene một mình không được khuyến cáo (do nguy cơ gây tăng sản nội mạc): bổ sung progesterone, hoặc 200mg mỗi ngày vào buổi tối lúc đi ngủ, 12 đến 14 ngày mỗi tháng, hoặc 2 tuần lễ cuối của mỗi chu kỳ điều trị, sau đó ngưng toàn bộ các trị liệu thay thế trong khoảng 1 tuần, trong thời gian này có thể có xuất huyết do thiếu hụt hormone.
Ðối với các chỉ định trên, có thể dùng đường âm đạo với liều tương tự với đường uống, trong trường hợp bệnh nhân bị bệnh gan và/hoặc có các tác dụng ngoại ý do progesterone (buồn ngủ sau khi uống thuốc).
Ðường âm đạo:
Ðặt viên nang sâu trong âm đạo.
- Thay thế progesterone trong các trường hợp thiếu progesterone hoàn toàn ở phụ nữ bị lấy buồng trứng (hiến noãn bào): Bổ sung cho liệu pháp estrogene: đặt 100mg vào ngày thứ 13 và ngày thứ 14 của chu kỳ chuyển tiếp, sau đó đặt mỗi lần 100mg vào buổi sáng và buổi tối từ ngày thứ 15 đến ngày thứ 25 của chu kỳ. Từ ngày thứ 26 và trong trường hợp bắt đầu có thai, liều được tăng thêm 100mg/ngày mỗi tuần để cuối cùng đạt đến liều tối đa 600mg mỗi ngày chia làm 3 lần. Duy trì liều này cho đến ngày thứ 60, và trễ nhất là cho đến tuần thứ 12 của thai kỳ.
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (FIV): liều được khuyến cáo là 400-600mg mỗi ngày bắt đầu từ ngày tiêm hCG cho đến tuần thứ 12 của thai kỳ.
- Bổ sung cho pha hoàng thể trong chu kỳ tự phát hoặc được tạo ra, trong trường hợp khả năng sinh sản kém hoặc vô sinh nguyên phát hay thứ phát nhất là do rối loạn rụng trứng: liều được khuyến cáo là 200-300mg mỗi ngày, bắt đầu từ ngày thứ 17 của chu kỳ, trong vòng 10 ngày và dùng lại càng nhanh càng tốt trong trường hợp tắt kinh và được chẩn đoán là có thai.
- Dọa sẩy thai hoặc phòng ngừa trong trường hợp bị sẩy thai liên tiếp do suy hoàng thể: liều được khuyến cáo là 200-400mg mỗi ngày, chia làm 2 lần.